Tài nguyên dạy học

Lịch và đồng hồ

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Nguyễn Đức Soái)
  • (Phạm Công Hoàng)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Dieu_che_oxygen.flv 2207243317987427219.flv 20180507_153111.jpg IMG20170929162116.jpg IMG_1028.JPG 10_co_gai_nga_ba_Dong_Loc__YouTube.flv Cai_chet_cua_Lao_Hac.flv Nghi_luan_XH.jpg So_sanh_nhan_vat_trong_mot_so_tac_pham_van_hoc__ViettelStudy.flv So_sanh_tam_trang_nhan_vat_tru_tinh_trong_tho__ViettelStudy.flv Hsg_h_500.jpg IMG_7299.jpg DSC01947.jpg DSC01932.jpg Nhmoi.swf Oi_con_song_ngan_pho.swf 258.jpg 2215.jpg 2117.jpg A.jpg

    Thành viên trực tuyến

    3 khách và 0 thành viên

    Ảnh giáo viên

    B





    sinh học

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Dung Thu (trang riêng)
    Ngày gửi: 15h:32' 10-04-2022
    Dung lượng: 58.4 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    MỤC LỤC
    MỤC LỤC 1
    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 2
    A: PHẦN MỞ ĐẦU 2
    I. Bối cảnh của đề tài. 2
    1. Bài tập về ADN. 2
    2. Học sinh. 2
    II. Lý do chọn đề tài. 3
    III. Phạm vi và Đối tượng. 3
    1. Đối tượng: 3
    2. Phạm vi nghiên cứu. 3
    3. Thời gian: 3
    4. Phương pháp 3
    IV. Mục đích nghiên cứu. 3
    V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu sang kiến 3
    B: PHẦN NỘI DUNG 4
    I. Cơ sở lý luận. 4
    1. Thận lợi 5
    2. Khó khăn 5
    III. Biện pháp đã tiến hành để: “Nâng cao kĩ năng giải bài tập về ADN” 5
    1. Biện pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch dạy học 5
    2. Biện pháp thứ hai: Làm rõ một số vấn đề lý thuyết trọng tâm. 6
    3. Biện pháp thứ ba : Xây dựng hệ thống công thức liên quan (có quy ước kèm theo khi sử dụng) : Yêu cầu học sinh biết dựa trên lý thuyết để xây dựng công thức, tránh học vẹt. 6
    4. Biện pháp thứ tư : Học sinh nắm vững 3 dạng bài liên quan đến : cấu trúc, quá trình nhân đôi của AND và các bài tập tổng hợp. 7
    4.1 Hướng dẫn học sinh làm bài tập liên quan đến cấu trúc của ADN. 7
    4.2 Học sinh nắm vững 2 dạng bài liên quan đến quá trình nhân đôi của ADN. 9
    4.3 Học sinh vận dụng kiến thức vào giải bài tập tổng hợp 11
    IV. Tính hiệu quả của sang kiến. 15
    1. Kết quả thực nghiệm 15
    2. Kết quả cụ thể. 15
    V. Khả năng ứng dụng và triển khai. 16
    VI. Ý nghĩa của sang kiến. 16
    C: PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
    I. Bài học kinh nghiệm 16
    II. Kiến nghị - Đề xuất. 17
    PHỤ LỤC : 18
    TÀI LIỆU THAM KHẢO 18




    DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    TT
    Từ viết tắt
    Từ viết đầy đủ
    1
    THPT
    Trung học phổ thông
    2
    THCS
    Trung học cơ sở
    3
    ADN
    Axit đêôxiribônuclêic
    4
    HSG
    Học sinh giỏi
    5
    GD&ĐT
    Giáo dục và đào tạo
    6
    BGH
    Ban giám hiệu
    7
    mt
    Môi trường


    A: PHẦN MỞ ĐẦU
    I. Bối cảnh của đề tài.
    1. Bài tập về ADN.
    Bài tập về ADN (axit đêôxiribônuclêic) là dạng phần kiến thức khá điển hình và thường được đưa vào đề thi học sinh giỏi (HSG) môn sinh học lớp 9. Tuy phần này chiếm một lượng kiến thức không nhiều trong chương trình sinh học lớp 9, nhưng phần bài tập về ADN có nhiều cấp độ khác nhau, dạng kiến thức khác nhau và cũng đặt ra những đòi hỏi khác nhau đối với học sinh về kiến thức, kỹ năng, khả năng tư duy sáng tạo. Đồng thời, trong các kỳ thi học sinh giỏi môn sinh học lớp 9 những năm gần đây, phần bài tập về ADN đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh về việc nắm vững kiến thức lý thuyết, vận dụng kiến thức lý thuyết để xây dựng các công thức, hình thành kĩ năng giải nhiều dạng bài tập khác nhau về ADN.
    2. Học sinh.
    Thực tế cho thấy, bên cạnh những HSG hiểu và nắm vững lý thuyết về ADN, biết vận dụng dụng lý thuyết vào giải bài tập vẫn còn có học sinh chưa thuộc những lý thuyết cơ bản trong sách giáo khoa, còn lúng túng khi thực hiện các yêu cầu bài tập nâng cao cũng như giải các bài tập tính toán đơn giản. Có không ít trường hợp học sinh, do còn thiếu kỹ năng phân tích, khái quát, tổng hợp dữ kiện, việc vận dụng tổng hợp phương pháp chưa linh hoạt, nên còn nhầm lẫn nội dung các câu hỏi và vận dụng sai các công thức để làm bài tập nên kết quả thi còn thấp, làm giảm thành tích thi của bản thân cũng như của đội tuyển. Điều đó cho thấy, quá trình dạy học môn sinh học nói chung và bồi dưỡng HSG môn sinh học lớp 9 nói riêng, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề hình thành, nâng cao kỹ năng giải các dạng bài tập về ADN.
    II. Lý do chọn đề tài.
    Nói đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Sinh học là một công việc vô cùng khó khăn và vất vả. Bởi lẽ, với môn Sinh học, học sinh vừa phải hoàn thiện kiến thức lí thuyết, vừa phải nhuần nhuyễn bài tập. Trong khi đó, số lượng tiết bài tập được đưa vào phân phối chương trình là quá ít so với số dạng bài tập xuất hiện trên các đề thi.
    Và với đặc điểm kiến thức về ADN và những khó khăn HSG môn sinh học gặp phải khi giải bài tập về ADN tôi chọn nghiên cứu và hoàn thiện sáng kiến kinh nghiệm có tên: “Nâng cao kĩ năng giải bài tập về ADN trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Sinh học 9”
    III. Phạm vi và Đối tượng.
    1. Đối tượng:
    - Học sinh giỏi môn Sinh học lớp 9
    2. Phạm vi nghiên cứu.
    - Môn sinh học 9: Kiến thức và bài tập về ADN
    3. Thời gian:
    Từ năm 2018 đến 2021: 3 năm học 2018-2019, 2019-2020, 2020-2021
    4. Phương pháp
    - Điêu tra sư phạm
    - Quan sát, theo giõi thái độ học tập
    - Rút kinh nghiệm và bổ sung nội dung qua các năm, các lớp khác nhau
    - Phương pháp thực nghiệm sư phạm qua các năm học
    IV. Mục đích nghiên cứu.
    Với mục đích xây dựng các bước và hướng dẫn học sinh giải bài toán ADN, giúp học sinh có phương pháp, kĩ năng giải bài toán về ADN trong chương trình Sinh học 9, từ đó nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn Sinh học đặc biệt với học sinh giỏi cấp tỉnh.
    V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu sang kiến
    Trong kiến thức Sinh học 9, học sinh bắt buộc phải giải được các bài tập liên quan đến: Các quy luật di truyền, nguyên phân – giảm phân, ADN – ARN và prôtêin, di truyền phả hệ và bài toán xác suất, sinh thái. Với học sinh giỏi thì không chỉ dừng lại ở việc hiểu, biết và làm được một số bài cơ bản mà còn phải làm được những dạng nâng cao, biện luận chặt chẽ. Để làm được việc đó không chỉ cần sự chăm chỉ, chịu khó, học sinh cần có một phương pháp giải bài tập tốt cho các dạng.
    Trong phạm báo cáo sáng kiến kinh nghiệm nhằm góp phần nâng cao chất lượng công tác giảng dạy, tôi lựa chọn mảng kiến thức và bài tập về ADN để viết với mong muốn có thể giúp các em có được phương pháp giải bài tập ADN tốt hơn. Do đó tôi lựa chọn nghiên cứu và hoàn thiện sáng kiến kinh nghiệm: “Nâng cao kĩ năng giải bài tập về ADN trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi Sinh học 9”
    Đề tài này tôi đã áp dụng từ năm học 2018 – 2019 và thấy đã có những chuyển biến tích cực trong lối tư duy và phương pháp làm bài tập của các em học sinh trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tạo sự tự tin, niềm hứng thú trong môn Sinh học lên rất nhiều.
    Đề tài còn có thể làm tài liệu cho các đồng nghiệp tham khảo thêm trong quá trình giảng dạy. Trong phạm vi đề tài này, tôi chỉ đưa ra một số ví dụ minh họa cụ thể, với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn sinh học, kích thích tư duy và hứng thú học tập của học sinh, để sinh học trở nên gần gũi với các em.

    B: PHẦN NỘI DUNG
    I. Cơ sở lý luận.
    Với đặc thù bộ môn là môn khoa học tự nhiên, kiến thức Sinh học ngoài các kết quả quan sát thực nghiệm để xây dựng nên hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh về sự sống của muôn loài, các kết quả đó còn được đúc kết dưới dạng các quy luật được mô tả bằng công cụ toán học. Vì vậy cũng như các bộ môn khoa học tự nhiên khác, để hiểu sâu sắc các kiến thức của Sinh học phải biết kết hợp giữa nghiên cứu lí thuyết và bài tập.
    Đối với học sinh giỏi lớp 9 việc giải các bài toán ADN không những chính xác còn cần tốc độ nhanh, học sinh biết vận dụng linh hoạt các kiến thức lý thuyết và phương pháp giải toán thì có thể giải quyết những vấn đề này một cách đơn giản và nhanh chóng.
    Kiến thức sinh học 9 là phần tương đối trừu tượng. Học sinh phải phát huy trí tưởng tượng của mình. Điều này gây khó khăn trong việc giải quyết bài tập nếu không có phương pháp rõ ràng.
    Trong các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh và các đề thi vào THPT chuyên, bài tập về ADN chiếm tỉ lệ điểm khá cao (2 – 4 điểm). Điều này nói lên tầm quan trọng của bài tập ADN trong tổng thể chương trình sinh học 9.
    Trong chương trình sinh học 9, phần lý thuyết về ADN chỉ gồm có 2 tiết nhưng nội dung bài tập liên quan thì rất nhiều, với các cấp độ khác nhau đòi hỏi học sinh phải nắm rõ lý thuyết, biết cách xây dựng công thức và vận dụng linh hoạt công thức vào giải bài tập liên quan.
    II. Thực trạng của vấn đề.
    Trong một đề thi học sinh giỏi các cấp không chỉ đòi hỏi học sinh giải được bài tập mà còn yêu cầu cao về cách trình bày và tốc độ làm bài. Do đó việc rèn cho học sinh kĩ năng giải bài tập là điều rất quan trọng.
    Trong những năm gần đây tốc độ phát triển công nghệ thông tin rất cao, các em có thể có tài liệu, tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau đòi hỏi người giáo viên cũng phải không ngừng cập nhật tài liệu, tư liệu mới từ đó hướng dẫn, định hướng các em các tiếp cận và lựa chọn nguồn tư liệu chính xác, hiệu quả.
    Đối với trường THCS nơi tôi công tác thì nhiệm vụ giáo dục mũi nhọn là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu, nhưng tại thời điểm năm 2017-2018 kết quả thi chọn HSG ở các cấp vẫn chưa được cải thiện, điều đó thôi thúc, đòi hỏi mỗi giáo viên bồi dưỡng cần không ngừng cải thiện, nâng cao chất lượng dạy và học, tìm ra những giải pháp mới có tính hiệu quả và ứng dụng cao để đáp ứng nhu cầu đào tạo của nhà trường.
    1. Thận lợi
    - Là trường THCS vùng cao biên giới nhưng luôn được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, luôn được sự chỉ đạo sát sao của phòng GD & ĐT, BGH nhà trường.
    - Nhà trường được đầu tư cơ sở vật chất khang trang, thường xuyên được bổ sung thiết bị, đồ dụng phục vụ cho việc dạy và học.
    - Đội ngũ giáo viên nhà trường có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nhiều năm. Tinh thần tự học và sáng tạo cao.
    - Đa số học sinh chăm ngoan, có tinh thần tự học tốt.
    2. Khó khăn
    - Kiến thức môn sinh phân bố ở 4 khối của THCS không đồng tâm: Lớp 6 (Thực vật, tảo, nấm, vi khuẩn, địa y…); Lớp 7 (Động vật), Lớp 8 (Giải phẫu sinh lí người), Lớp 9 (Di truyền và biến dị, sinh vật và môi trường). Do đó phải đến hết lớp 8 mới có thể dạy kiến thức mới và bồi dưỡng cho học sinh lớp 9.
    - Môn sinh học 9 cũng đòi hỏi học sinh có khả năng tư duy cao và tính toán tốt, trong khi đó đa số học sinh có năng lực tính toán và khả năng tư duy lại tập trung ở môn Toán, Lí, Hóa và Tiếng Anh. Nên số lượng học sinh tham gia thi chọn và bồi dưỡng môn Sinh không cao.
    - Đa số phụ huynh học sinh mong muốn con tham gia đội tuyển học sinh giỏi toán, lí, hóa hoặc những môn liên quan đến thi vào cấp 3, nên ngại khi cho con tham gia bồi dưỡng HSG môn sinh.
    - Trường miền núi, biên giới của huyện nên đa số học sinh ở xa trường, công tác tập trung bồi dưỡng ngoài thời gian học chính khóa gặp rất nhiều khó khăn.
    III. Biện pháp đã tiến hành để: “Nâng cao kĩ năng giải bài tập về ADN”
    Đa số học sinh khi sau khi học xong lý thuyết về ADN thì chưa thể làm bài tập phần này được hoặc chỉ là quá trình bắt chước theo mẫu, tuân thủ quá trình nhận thức chung. Có đọc sách, đọc tài liệu, đọc sách tham khảo, lên mạng tìm hiểu, nhưng không biết cách đọc; không biết cách học bài cũ. học khái niệm chóng quên; không biết giải các bài tập ở mức độ vận dụng thấp; biết giải nhưng không biết trình bày lời giải; ở mức độ vận dụng cao.
    Tôi triển khai hoạt động khảo sát về khả năng nắm bắt kiến thức, vận dụng kiến thức vào làm bài tập. Sau đó, tôi thực hiện 12 tiết học, các hoạt động chủ yếu là hướng dẫn học sinh tự học. Sau mỗi tiết học, tôi ghi lại quan sát của mình và nhìn lại quá trình dạy học để tìm cách cải thiện cho tiết dạy tiếp theo. Từ đó, tôi đưa ra các giải pháp hình thành và rèn luyện kĩ năng cho học sinh như sau:
    1. Biện pháp thứ nhất: Xây dựng kế hoạch dạy học
    - Đây là giải pháp chủ chốt, nó chi phối đến các giải pháp khác và là giải pháp quyết định đến sự thành công chuyên đề. Giáo viên cần biên soạn chương trình, nội dung bồi dưỡng rõ ràng, cụ thể, chi tiết cho từng dạng bài tập về từng mảng kiến thức rèn luyện các kỹ năng ngôn ngữ theo số tiết quy định nhất định và nhất thiết phải bồi dưỡng theo quy trình từ thấp đến cao, từ dễ đến khó để các em học sinh bắt nhịp dần.
    - Xác định rõ trọng tâm kiến thức giảng dạy cho từng chuyên đề, từng dạng bài toán để tránh trùng lặp. Chương trình bồi dưỡng cần có sự liên thông gắn kết giữa các đơn vị kiến thức để học sinh thấy được mối liên quan cũng như sự khác biệt giữa các dạng bài toán đó.
    - Giáo viên sưu tầm các bộ đề thi học sinh giỏi lớp 9 trong và ngoài tỉnh thông qua công nghệ thông tin nhằm giúp các em tiếp xúc làm quen với các dạng đề, các dạng bài tập mới.
    - Giáo viên hướng dẫn học sinh nghiên cứu các tài liệu, sách vở, phù hợp với trình độ của các em để tự rèn luyện thêm ở nhà. Đồng thời cung cấp hoặc giới thiệu các địa chỉ trên mạng để học sinh có thể tự học, tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức.
    2. Biện pháp thứ hai: Làm rõ một số vấn đề lý thuyết trọng tâm.
    2.1 Cấu trúc của ADN
    + Cấu trúc hóa học của ADN
    + Cấu trúc không gian của ADN
    + Tính đặc trưng của ADN
    + Chức năng cơ bản của ADN
    2.2 Hệ quả của NTBS:
    2.3 Cơ chế và ý nghĩa tổng hợp ADN (cơ chế và ý nghĩa quá trình tự nhân đôi ADN)
    3. Biện pháp thứ ba : Xây dựng hệ thống công thức liên quan (có quy ước kèm theo khi sử dụng) : Yêu cầu học sinh biết dựa trên lý thuyết để xây dựng công thức, tránh học vẹt.
    * Tính số Nu của gen
    - Xét trên 1 mạch nuclêôtit của gen
    Gọi A1, T1, G1, X1 lần lượt là số nuclêôtit từng loại của mạch 1
    A2, T2, G2, X2 lần lượt là số nuclêôtit từng loại của mạch 2
    N là tổng số nuclêôtit của gen.
    Theo NTBS, ta có số nuclêôtit trên mỗi mạch của gen là
    A1+ T1+ G1+ X1= A2+ T2+ G2+ X2 = N/2
    A1 = T2, T1 = A2, X1 = G2, G1 = X2.
    - Xét trên cả 2 mạch nuclêôtit của gen
    Số lượng từng loại nu của gen : A = T = T1 + T2 = A1 + A2 = T1 + A1 = T2 + A2
    G = X = G1 + G2 = X1 + X2 = G1 + X1 = G2 + X2
    Từ A1+ T1+ G1+ X1= N/2 -> A + G = N/2 <-> 2 A + 2 G = N
    Do A + G = N/2 nên nếu tính tỷ lệ % ta có :
    % A + % G = 50% N
    Tỷ lệ %A; %A 2 ; %T1 ;%T2 ; %G1 ; %G2 ;%X1 ;%X2 được tính trên 1 mạch của gen. Nếu xét trên cả (2 mạch) thì :
    % A = % T = (% A1 + % A2) : 2 = (% T1 + % T2) : 2.
    % G = % X = (% G1 + % G2) : 2 = (% X1 + % X2) : 2
    - Tính chiều dài của gen:
    L = N/2 . 3,4 Ao -> N = 2 L (Ao) : 3,4 Ao
    - Số vòng xoắn và khối lượng của gen:
    + Số vòng xoắn của gen:
    C = N/20 = L/34A0 <-> N = C .20, L = C. 34A0
    + Khối lượng của gen:
    Mỗi nuclêôtit có khối lượng trung bình là 300 đơn vị cacbon (đvc)
    Gọi M là khối lượng của gen, ta có :
    M = N . 300 đvc < -> N = M : 300 đvc
    - Tính số liên kết hoá trị giữa đường với axít trong gen:
    Do đó tống số liên kết hoá trị của gen là:
    2 ( N/2 + N/2 - 1) = 2 ( N-1)
    Liên kết hoá trị giữa các nuclêôtit của gen:
    2 ( N/2 - 1) = N - 2
    - Số liên kết hyđrô của gen:
    H = 2 A + 3 G
    * Tính số lượng nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi.
    - Khi gen nhân đôi 1 lần :
    2N – N = N.
    Vậy khi gen nhân đôi 1 lần thì số lượng nuclêôtit môi trường cung cấp bằng chính số lượng nuclêôtit chứa trong gen đó.
    - Khi gen nhân đôi nhiều lần :
    Vậy 1 gen nhân đôi k lần tạo 2k gen con. Tổng số nuclêôtit môi trường cung cấp:
    Nmt = (2k - 1). N
    Amt = Tmt = (2k - 1) . Agen
    Gmt = Xmt = (2k - 1) . Ggen
    - Tính số liên kết H phá vỡ và được hình thành trong quá trình nhân đôi của gen, số liên kết hoá trị được hình thành.
    + Tổng số liên kết H bị phá vỡ = ( 2k -1) . H
    Có 2k gen con được tạo ra nên:
    + Tổng số liên kết H hình thành = 2k. H
    + Tổng số liên kết hoá trị hình thành = (2k -1) (N -2)
    4. Biện pháp thứ tư : Học sinh nắm vững 3 dạng bài liên quan đến : cấu trúc, quá trình nhân đôi của AND và các bài tập tổng hợp.
    4.1 Hướng dẫn học sinh làm bài tập liên quan đến cấu trúc của ADN.
    Dạng 1 : Xác định trình tự các nucleotit trên 1 mạch của phân tử ADN.
    - Đây là dạng dễ học sinh sẽ dựa vào nguyên tắc bổ sung và tìm ra được mạch còn lại của phân tử ADN nên giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm nhanh nhưng đảm bảo tính chặt chẽ trong trình bày.
    Dạng 2 : Tính số nuclêôtit của gen
    * Thí dụ: Trên mạch thứ nhất của gen có 10% a đênin và 450 guanin.
    1.Tính tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit trên mỗi mạch của gen.
    2.Tính tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của cả gen.
    Giải
    1. Tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit trên mỗi mạch của gen.
    Theo đề bài và theo NTBS ta có:
    A1 = T2 = 10%, T1 = A2 = 25%, X1 = G2 = 35%,
    G1 = X2 = 450 nu = 100% - (10% + 25% + 35%) = 30%
    Số nuclêôtit trên 1 mạch của gen : 450. 100 : 30 = 1500 nu.
    Vậy tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của mỗi mạch của gen.
    Mạch 1 Mạch 2 % Số lượng
    A1 = T2 = 10% = 10% . 1500 = 150 nu
    T1 = A2 = 25% = 25% . 1500 = 375 nu
    X1 = G2 = 35% = 35% .1500 = 525 nu
    G1 = X2 = 30% = 30% . 1500 = 450 nu
    2. Tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    a. Tỷ lệ %
    A = T = ( % A1 + % A2) : 2 = ( 10% + 25% ) : 2 = 17,5%
    G = X = ( % G1 + % G2) : 2 = ( 35% + 30% ) : 2 = 32,5%
    b. Số lượng từng loại nuclêôtit của gen
    A = T = 17,5% . ( 1500 x 2) = A1 + A2 = 150 + 275 = 525 nu
    G = X = G1 + G2 = 525 + 450 = 975 nu
    Dạng 3: Tính chiều dài, số vòng xoắn và khối lượng của gen
    * Thí dụ 1: Một gen có 90 chu kỳ xoắn và số nuclêôtit loại ađênin là 20%. Mạch 1 của gen có A = 20% và T = 30%. Mạch 2 của gen có G = 10% và X = 40% so với số lượng nuclêôtit của một mạch.
    a) Tính chiều dài và khối lượng của gen nếu biết khối lượng trung bình của 1 nuclêôtit là 300 đơn vị cácbon.
    b) Tính số lượng từng loại nuclêôtit của gen và của mỗi mạch gen.
    Giải
    1. a- Chiều dài của gen:
    Chiều dài của gen: L = C. 34 A0 = 90 . 34 A0 = 3060 A0
    Số lượng nuclêôtit của gen: N = C. 20 = 90. 20 = 1800 nu
    b- Khối lượng của gen: M = N. 300 đvc = 1800. 300 = 540. 000 đvc
    2. a- Số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    Theo đề bài ta có:
    A = T = 20% = 20% . 1800 = 360 nu
    G = X = ( 1800 : 2) – 360 = 540 nu
    b- Số lượng từng loại nuclêôtit của mỗi mạch của gen
    Theo đề bài và dựa vào NTBS ta có:
    A1 = T2 = 20%, T1 = A2= 30%, X1= G2 = 10%, G1 = X2 = 40%
    Vậy số lượng từng loại nuclêôtit của mỗi mạch của gen.
    Mạch 1
    Mạch 2
    Số lượng
    A1 =
    T2
    = 20% . 900 = 180 nu
    T1 =
    A2
    = 30% . 900 = 270 nu
    X1 =
    G2
    =10% .900 = 90 nu
    G1 =
    X2
    =40% . 900 = 360 nu

    * Thí dụ 2: Một gen có khối lượng bằng 9.105 và có hiệu số giữa nuclêôtit loại G với một loại nuclêôtit khác bằng 10% số nuclêôtit của gen.
    1. Tính chiều dài của gen.
    2. Tính tỷ lệ %và số lượng từng loại nuclêôtit của gen.
    Giải
    1. Chiều dài của gen
    1 nuclêôtit có KL 300 đvc -> N = 9. 105 : 300 = 3000 nu
    Chiều dài của gen: L = N/2 . 3,4 Ao = 3000/2 . 3,4 = 5100 Ao
    2. Tỷ lệ và số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    Theo đề bài và theo NTBS, ta có: G – A = 10%
    G + A = 50% -> G = X = 30%,
    A = T = 50% - 30% = 20%
    Số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    A =T = 20%. 3000 = 600 nu
    G = X = 30%. 3000 = 900 nu
    Dạng 4: Tính số liên kết hoá học của gen
    * Thí dụ: Một gen có chiều dài 0,408 micrômét. Mạch thứ nhất của gen có 40% ađênin gấp đôi số ađênin mạch thứ hai .
    1. Tính số liên kết hóa trị giữa đường và a xít trong gen.
    2. Tính số liên kết hyđrô của gen.
    Giải
    1. Số liên kết hoá trị của gen
    Gọi N là số nuclêôtit của gen, ta có:
    N = 2L : 3,4 Ao = 0,408 . 104 Ao . 2 : 3,4 Ao = 2400 nu
    Số liên kết hoá trị của gen là:
    2 ( N- 1) = 2 . ( 2400 -1 ) = 4798 lk
    2. Số liên kết hiđrô của gen là:
    A1 = 2 A2 = 40% => A2 = 20%
    Gen có A = T = (% A1 + % A2 ) : 2 = (40% + 20%) : 2 = 30%
    = 30% . 2400 = 720 nu
    G = X = 2400 : 2 – 720 = 480 nu
    Số liên kết hiđrô của gen:
    2A + 3G = 2. 720 + 3. 480 = 2880 lk
    4.2 Học sinh nắm vững 2 dạng bài liên quan đến quá trình nhân đôi của ADN.
    Dạng 1: Tính số lượng nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi.
    Thí dụ 1: Một gen tái sinh một số đợt đã sử dụng của môi trường 21000 nuclêôtit, trong đó loại ađênin chiếm 4200. Biết tổng số mạch đơn trong các gen được tạo thành gấp 8 lần số mạch đơn của gen mẹ lúc đầu.
    1. Tính số lần tái sinh của gen.
    2. Tính số lượng và tỷ lệ % từng loại nuclêôtit của gen.
    Giải
    1. Số lần tái sinh của gen:
    Theo đề bài, tổng số mạch đơn tạo ra gấp 8 lần số mạch đơn lúc đầu của gen mẹ là 2 mạch. Vậy tổng số mạch đơn tạo ra là: 8 x 2 = 16 mạch, tương ứng với số gen tạo ra là là:
    16 : 2 = 8 gen
    Gọi k là số lần tái sinh của gen. ta có:
    Số gen con: 2k = 8 = 23 => k = 3. Vậy gen tái sinh 3 lần.
    2. Số lượng và tỷ lệ % từng loại nuclêôtit của gen:
    Gọi N là số nuclêôtit của gen ( ĐK: N nguyên, dương). Ta có:
    (23 – 1). N = 21000 -> N = 3000 nu
    Gen tái sinh 3 lần đã lấy của môi trường 4200 nu loại A. nên:
    (23 – 1). A = 4200 -> A = 600 nu
    Vậy số lượng và tỷ lệ % từng loại nuclêôtit của gen là:
    A = T = 600 nu = 600. 100%: 3000 = 20%
    G = X = (3000: 2) – 600 = 900 = 900. 100%: 3000 = 30%
    Lưư ý: A gen = 20%
    Trong tổng số nuclêôtit lấy của môi trường là 21000 thì loại A chiếm 4200.
    Vậy tỉ lệ nuclêôtit loại A lấy của môi trường là:
    4200: 21000. 100% = 20% = % A gen
    Vậy, khi gen nhân đôi (dù bao nhiêu lần) thì tỷ lệ % từng loại nuclêôtit lấy của môi trường bằng tỷ lệ % từng loại nuclêôtit đó chứa trong gen.
    Thí dụ 2: Một gen nhân đôi 4 đợt liên tiếp đã lấy của môi trường 36000 nuclêôtit tự do để góp phần tạo nên các gen con; trong đó có 10800 guanin.
    Tính tỷ lệ % và số lượng từng loại nuclêôtit chứa trong gen.
    Giải
    Gọi N là số nuclêôtit của gen, ta có:
    (24 -1) . N = 36000 nu
    N = 36000 : 15 = 2400 nu
    Trong tổng số 36000 nuclêôtit môi trường cung cấp, loại G chiếm 10800. Nên tỷ lệ % loại G lấy của môi trường cũng là tỷ lệ % loại G chứa trong gen.
    G = 10800 : 36000 . 100% = 30%
    Vậy tỷ lệ % và số lượng nuclêôtit từng loại của gen là:
    G = X = 30% = 30% . 2400 = 720 nu
    A = T = 50% - 30% = 20% = 20% . 2400 = 480 nu.
    Dạng 2: Tính số liên kết H phá vỡ và được hình thành trong quá trình nhân đôi của gen, số liên kết hoá trị được hình thành.
    Thí dụ: Một gen nhân đôi liên tiếp 3 lần đã lấy của môi trường 16800 nuclêôtit. Gen có tỷ lệ A : G = 3 : 7.
    1. Tính số liên kết hyđrô bị phá vỡ và số liên kết hyđrô được tạo thành trong quá trình nhân đôi nói trên của gen.
    1. Tính số liên kết hóa trị được tạo thành.
    Giải
    1. Số liên kết H bị phá vỡ và được hình thành:
    Gọi N là số nuclêôtit của gen (Điều kiện: N nguyên, dương) ta có:
    ( 23 -1) N = 16800 nu.
    -> N= 2400 nu
    Gen có: A : G = 3 : 7 -> A = 3/7 G
    A + G = N/2 = 2400 : 2 = 1200 nu
    3/7 G + G = 1200 hay 10 G = 8400 nu
    Số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    X = G = 8400 : 10 = 840 nu
    A = T = 1200 – 840 = 360 nu
    Số liên kết H của gen.
    H = 2. 360 + 3. 840 = 3240 lk
    Vậy nếu gen nhân đôi 3 lần thì:
    - Số liên kết H bị phá vỡ:
    ( 23 -1) . 3240 = 22680 lk
    - Số liên kết H được hình thành:
    23 . 3240 = 25920 lk
    2. Số liên kết hoá trị được hình thành:
    ( 23 -1) ( 2400 – 2) = 16786 lk
    4.3 Học sinh vận dụng kiến thức vào giải bài tập tổng hợp
    Thí dụ 1:
    1. Gen thứ nhất dài 2550 A0 nhân đôi một số lần liên tiếp và đã lấy của môi trường 22500 nuclêôtit tự do; trong đó có 6750 xitôzin.
    Tính số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp, số liên kết hyđrô bị phá vỡ, số liên kết hyđrô và số liên kết hóa trị được hình thành trong quá tình nhân đôi của gen.
    2. Gen thứ hai dài bằng gen thứ nhất nhưng có số nuclêôtit loại ađênin ít hơn ađênin của gen thứ nhất là 30.
    Tính số lượng nuclêôtit từng loại môi trường cung cấp và số liên kết hyđrô bị phá vỡ nếu gen thứ hai nhân đôi 3 lần liên tiếp.
    Giải
    1. Xét gen thứ nhất:
    Tống số nuclêôtit của gen: 2550 A0 x 2: 3,4 A0 = 1500 nu
    Trong tổng số 22500 nuclêôtit môi trường cung cấp có 6750 X. Vậy tỉ lệ % loại X lấy của môi trường = tỷ lệ % loại X chứa trong gen là:
    6750 : 22500 . 100% = 30%
    Số lượng từng loại nuclêôtit của gen:
    G = X = 30% . 1500 = 450 nu
    A = T = 50% - 30% = 20% . 1500 = 300 nu.
    a. Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp:
    Gọi k là số lần nhân đôi của gen, (Điều kiện: k nguyên, dương) ta có:
    ( 2k – 1) . 1500 = 22500 -> k = 4 lần
    Vậy số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi 4 lần là:
    A = T = ( 23 – 1) .300 = 4500 nu
    G = X = ( 23 – 1). 450 = 6750 nu
    b. Số liên kết hyđrô bị phá vỡ:
    Số liên kết hyđrô của gen: 2.300 + 3. 450 = 1950 lk
    Số liên kết hyđrô bị phá vỡ khi gen nhân đôi 4 lần:
    ( 24 – 1) . 1950 = 29250 lk
    c. Số liên kết hyđrô được hình thành: 24 . 1950 = 31200 lk
    d. Số liên kết hoá trị được hình thành: ( 24 – 1)( 1500 – 2) = 22470 lk
    2. Xét gen hai: Gen 2 dài bằng gen 1 và có A ít hơn so với gen 1 là 30, ta có:
    Số nuclêôtit gen 2 = số nuclêôtit gen 1 = 1500 nu
    Gen 2 có: A = T = 300 – 30 = 270 nu
    G = X = 1500 : 2 – 270 = 480 nu
    Số liên kết hyđrô của gen 2: 2. 270 + 3. 480 = 1980 lk
    Vậy khi gen nhân đôi 3 lần thì:
    a. Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp là:
    A = T = ( 23 – 1) . 270 = 1890 nu
    G = X = ( 23 – 1) . 480 = 3360 nu
    b. Số liên kết hyđrô bị phá vỡ: ( 23 – 1) . 1980 = 13860 lk.

    Thí dụ 2: Hai gen I và II tiến hành nhân đôi một số đợt không bằng nhau và đã tạo ra tổng số 20 gen con. Biết số lần nhân đôi của gen I nhiều hơn số lần nhân đôi của gen II.
    1. Xác định số lần nhân đôi của mỗi gen.
    2. Trong quá trình nhân đôi của 2 gen, môi trường đã cung cấp 7830 ađênin để góp phần hình thành các gen con. Biết gen I có tỷ lệ A/G = 3/2 và có 1800 liên kết hyđrô. Gen II có A/G = 3/7. Tính số lượng nuclêôtit của gen II.
    Giải
    1. Số lần tự nhân đôi của mỗi gen:
    Gọi x, y lần lượt là số lần nhân đôi của gen I và gen II (x, y nguyên dương, x > y)
    Số gen con tạo ra từ gen I là 2x, số gen con tạo ra từ gen II là 2y
    Tổng số gen con tạo ra từ 2 gen là 20, ta có:
    2x + 2y = 20 -> 2y = 20 – 2x
    Giải PT:
    x
    1
    2
    3
    4
    2x
    2
    4
    8
    16
    2y= 20 – 2x
    18
    16
    12
    4
    y
    lẻ
    4
    lẻ
    2

    Từ kết quả trên, với x > y, ta có x = 4, y = 2
    Vậy gen I nhân đôi 4 lần, gen II nhân đôi 2 lần.
    2. Số lượng từng loại nuclêôtit của gen II:
    Xét gen I: A/G = 3/2 -> A = 3/2 G
    Gen I có 1800 liên kết hyđrô, ta có: 2A + 3 G = 1800
    <-> 2. 3/2 G + 3 G = 1800 <-> 6 G = 1800
    Số lượng từng loại nuclêôtit của gen I: G = X = 1800 : 6 = 300 nu
    A = T = 3/2 . 300 = 450 nu
    Gen I nhân đôi 4 lần đã sử dụng của môi trường số nuclêôtit loại A là:
    (24 -1) . 450 = 6750 nu
    Vậy gen II nhân đôi 2 lần đã sử dụng của môi trường số nuclêôtit loại A là:
    (22 -1) A genII = 7830 – 6750 = 1080 nu
    Do đó, số lượng từng loại nuclêôtit của gen II là:
    A = T= 1080 : 3 = 360 nu
    A/G = 3/7 -> G = X = 7/3 A = 7/3 . 360 = 840 nu

    Thí dụ 3: Hai gen I và II nhân đôi một số lần không bằng nhau và đã tạo ra tổng số gen con là 40. Biết số lần nhân đôi của gen II nhiều hơn gen I.
    1. Tìm số lần nhân đôi của mỗi gen.
    2. Gen I dài gấp đôi gen II. Trong quá trình nhân đôi, hai gen đã sử dụng 67500 nuclêôtit của môi trường góp phần tạo ra các gen con. Gen I có hiệu số giữa ađênin với một loại nuclêôtit khác bằng 10% . Gen II có tỷ lệ từng loại nuclêôtit là bằng nhau.
    a, Tính chiều dài mỗi gen
    b, Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho mỗi gen nhân đôi.
    Giải
    1. Số lần nhân đôi của mỗi gen:
    Gọi x, y lần lượt là số lần nhân đôi của gen I và gen II (x,y nguyên dương, y > x)
    Số gen con tạo ra từ gen I là 2x, số gen con tạo ra từ gen II là 2y
    Tổng số gen con tạo ra từ 2 gen là 40, ta có:
    2x + 2y = 40 <-> 40 = 8 + 32 = 23 + 25
    x = 3, y= 5 thỏa mẫn điều kiện
    Vậy gen I nhân đôi 3 lần, gen II nhân đoi 5 lần.
    2, a- Chiều dài mỗi gen:
    Gen I dài = 2 lần gen II-> Tổng số nuclêôtit gen I = 2. Tổng số nuclêôtit gen II.
    Gọi NII là tổng số nuclêôtit của gen II (Điều kiện: NII nguyên, dương)
    -> 2. NII là tổng số nuclêôtit của gen I
    Tổng số nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen I nhân đôi 3 lần và gen II nhân đôi 5 lần là:
    (23-1) . 2. NII + (25-1).NII = 67500 nu
    -> NII = 1500 nu -> N genI = 3000 nu
    Vậy chiều dài genI = 3000 : 2 .3,4 Ao = 5100 Ao
    Chiều dài gen II = 1500 : 2 . 3,4 Ao = 5100 Ao : 2 = 2550 Ao
    b. Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho mỗi gen nhân đôi:
    * Xét gen I:
    Theo bài ra, theo NTBS ta có: A – G = 10%
    A + G = 50% -> A = T = 30%
    G = X = 20%
    Số lượng từng loại nuclêôtit của gen: A = T = 30%. 3000 = 900 nu
    G = X = 20% . 3000 = 600 nu
    Amt = Tmt = (23-1). 900 = 6300 nu
    Gmt = Xmt = (23-1). 600 = 4200 nu
    * Xét gen II: Do tỷ lệ từng loại nuclêôtit bằng nhau -> Số lượng từng loại nuclêôtit bằng nhau
    A = T = G = X = 1500 : 4 = 375 nu
    Amt = Tmt = Gmt = Xmt = (25 -1) . 375 = 11625 nu

    Thí dụ 4: Gen I và gen II nhân đôi một số lần bằng nhau và đã lấy của môi trường 29400 nuclêôtit .
    Gen I có chiều dài 0,408 Micrômet và có số liên kết hyđrô giữa A và T bằng 2/3 số liên kết hyđrô giữa G với X. Gen II có 90 vòng xoắn và có hiệu số giữa A với G bằng 150 nuclêôtit .
    1. Tính số lần nhân đôi của mỗi gen.
    2. Tính số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho mỗi gen nhân đôi.
    3. Tính số liên kết hyđrô bị phá vỡ, số liên kết hyđrô và số liên kết hóa trị được tạo thành trong qua trình nhân đôi của hai gen
    Giải
    1, Số lần nhân đôi của mỗi gen:
    Tổng số nuclêôtit gen I = 0,408 . 104 . 2 : 3,4 = 2400 nu
    Tổng số nuclêôtit gen II = 90 vòng xoắn x 20 = 1800 nu
    Theo bài ra gen I và gen II nhân đôi số lần = và = k (Điều kiện: k nguyên, dương)
    Tổng số nuclêôtit môi trường cung cấp cho 2 gen là:
    (2k -1) . 2400 + (2k -1) . 1800 = 29400 -> k = 3
    2, Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho mỗi gen nhân đôi:
    * Xét gen I:
    Số liên kết H giữa A- T = 2A, G- X = 3 G
    Theo bài ra, ta có: 2A = 3 . 2/3 G = 2G =>A = T = G = X = 2400 : 4 = 600 nu
    Số lượng từng loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen nhân đôi 3 lần là:
    Amt = Tmt = Gmt = Xmt =(23 - 1) .600 = 4200 nu
    * Xét gen II:
    Theo bài ra và theo NTBS, ta có: A + G = 900
    A – G = 150 ->A = T = 525 nu, G = X = 375 nu
    Số lượng từmg loại nuclêôtit môi trường cung cấp cho gen II nhân đôi 3 lần:
    Amt = Tmt = (23-1). 525 = 3675 nu
    Gmt = Xmt = (23-1). 375 = 2625 nu
    3, Số liên kết hyđrô của gen I: HI = 2A + 3 G = 2. 600 + 3. 600 = 3000 lk
    Gen II : HII = 2. 525 + 3. 375 = 2175 lk
    a. Số liên kết hyđrô bị phá vỡ của cả 2 gen là:
    (2k - 1).(HI + HII) = (23 - 1). (3000 + 2175) = 36225 lk
    b. Số liên kết hyđrô được hình thành của cả 2 gen là:
    2k.(HI + HII) = 23 (3000 + 2175) = 41400 lk
    c. Số liên kết hoá trị được hình thành trong quá trình nhân đôi của cả 2 gen:
    (2k- 1).[( N genI - 2) + ( NgenII - 2) ] = (23 -1) .[( 2400 - 2) + ( 1800 - 2) ]
    = 29372 liên kết.

    IV. Tính hiệu quả của sang kiến.
    1. Kết quả thực nghiệm
    Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm "Nâng cao kĩ năng giải bài tập về ADN với học sinh giỏi Sinh học 9” ở trường THCS tôi công tác
    Tôi nhận thấy học sinh đội tuyển đã không còn lúng túng, hoang mang khi làm bài tập dạng ADN. Bước đầu đã hình thành cho các em kĩ năng giải bài tập ADN từ cơ bản đến nâng cao từ đó giúp các em có những kết quả tốt hơn khi gặp dạng bài tập này.
    2. Kết quả cụ thể.
    2.1 Kết quả khảo sát học sinh đội tuyển trước khi áp dụng biện pháp này :
    KN Vận dụng
    Tổng số HS
    Năm học
    Vận dụng thấp
    %
    Vận dụng cao
    %
    15
    2018 - 2019
    15
    100
    8
    53.33
    15
    2019 - 2020
    15
    100
    7
    46.67
    15
    2020 - 2021
    15
    100
    8
    53.33

    2.2 Kết quả khảo sát học sinh đội tuyển sau khi áp dụng biện pháp này :
    KN Vận dụng
    Tổng số HS
    Năm học
    Vận dụng thấp
    %
    Vận dụng cao
    %
    15
    2018 - 2019
    15
    100
    14
    93.33
    15
    2019 - 2020
    15
    100
    13
    86.67
    15
    2020 - 2021
    15
    100
    14
    93.33

    Sau khi nhóm giáo viên Sinh học chúng tôi áp dụng đề tài này vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thì đa số học sinh khi đi thi gặp dạng bài tập về ADN đều có tốc độ giải nhanh hơn và kết quả tốt hơn so với trước khi được áp dụng.
    2.3 Kết quả thi học sinh giỏi Sinh học 9 trong 3 năm gần đây khi chúng tôi áp dụng đề tài này:

    Năm học
    Số giải cấp Huyện đạt được
    Số giải cấp Tỉnh đạt được
    2018 - 2019
    2 nhì, 2 ba
    1 nhất , 1 nhì
    2019 - 2020
    1 nhì, 2 khuyến khích
    1 khuyến khích
    2020 - 2021
    2 nhì, 1 ba, 1 khuyến khích
    1 nhì , 1 ba

    Sau khi áp dụng các giải pháp này vào việc giảng dạy môn Sinh 9 tại trường THCS tôi công tác thì tình hình học tập của học sinh thấy hứng thú hơn trong việc học tập bộ môn có sự chuyển biến tích cực. Đặc biệt là đối với đội tuyển học sinh giỏi.

    V. Khả năng ứng dụng và triển khai.
    1. Với học sinh khá giỏi.
    - Sau khi xây dựng công thức cần hướng học sinh vận dụng linh hoạt trong các dạng bài tập và có sự chấm chữa một cách chặt chẽ để rèn kĩ năng trình bày cho học sinh:
    -Bổ sung thêm nhiều đề thi các cấp trong những năm gần đây để áp dụng hiệu quả đề tài vào bồi dưỡng học sinh giỏi.
    2. Với học sinh đại trà.
    - Khi áp dụng đề tài với học sinh đại trà cần xây dựng lại cắt bớt một số bài tập khó.
    - Hình thành và rèn luyện cho học sinh đại trà khả năng tư duy và tính toán đơn giản giúp học sinh hứng thú hơn với bộ môn Sinh học.

    VI. Ý nghĩa của sang kiến.
    Sau 3 năm áp dụng biện pháp nâng cao kĩ năng giải bài tập AND, tôi nhận thấy học sinh có rất nhiều tiến bộ. Thể hiện ở:
    - Học sinh có kĩ năng phân tích đề bài tốt hơn, tránh sót ý.
    - Học sinh có kĩ năng làm bài tốt hơn, giải bài tập nhanh và chính xác hơn.
    - Học sinh có hứng thú trong việc trao đổi và giải bài tạpADN thay vì sợ như trước đây.
    - Chất lượng đội tuyển học sinh cấp huyện, tỉnh được nâng cao rõ rệt.
    - Không chỉ dừng lại ở kết quả HSG các cấp mà còn có các học sinh thi đậu các trường THPT chuyên Sinh học và có kết quả cao trong kỳ thi HSG cấp quốc gia.

    C: PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
    I. Bài học kinh nghiệm
    Để học sinh lĩnh hội tốt nội dung kiến thức phần ADN thì người giáo viên phải thực hiện phương pháp truyền thụ một cách linh hoạt, phải chọn những nội dung phù hợp với học sinh như : Sau khi hướng dẫn học sinh học xong phần lý thuyết và phương pháp giải bài tập giáo viên cho học sinh nâng cao dần kiến thức và làm quen với các đề thi học sinh giỏi bằng cách cho học sinh luyện các đề thi học sinh giỏi của tỉnh cũng như của các huyện các tỉnh khác mà giáo viên đã sưu tầm được. Đồng thời cung cấp các tài liệu mà giáo viên có cho học sinh cũng như hướng dẫn học sinh cách sưu tầm các loại tài liệu phục vụ cho việc học tập của đội tuyển. Các buổi học đội tuyển giáo viên cần kiểm tra, cho điểm đánh giá thường xuyên để phân loại học sinh và có phương pháp kèm cặp.Với các đề cho học sinh luyện, giáo viên cần cùng học sinh chữa, chấm kịp thời để phát hiện các thiếu sót trong kiến thức và có biện pháp bổ sung, chấn chỉnh. Trong lớp đội tuyển cần phân chia các nhóm học sinh để giúp đỡ nhau cũng như trao đổi bài.
    Từ những biện pháp đó cùng sự kết hợp với gia đình học sinh tạo điều kiện để học sinh có thời gian học tập bài đội tuyển ở nhà chắc chắn trình độ học sinh sẽ được nâng lên.
    Việc phân dạng và hướng dẫn cụ thể bài tập Sinh học 9 phần ADN giúp các em tìm được phương pháp giải với từng dạng toán qua đó rèn luyện kĩ năng giải bài tập cho học sinh, giúp các em hiểu sâu hơn phần lý thuyết, tìm được sự liên quan chặt chẽ giữa lí thuyết và bài tập, tạo cho các em niềm say mê hứng thú trong quá trình học tập .
    Trên đây là một số giải pháp nâng cao kĩ năng giải bài tập Sinh học 9 phần ADN, mà tôi đã áp dụng vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng và việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung. Vậy tôi mạnh dạn trao đổi với đồng nghiệp để chúng ta có thể vận dụng được phần nào trong giảng dạy hoặc trên cơ sở này có hướng nghiên cứu tiếp, phát triển đề tài hiệu quả hơn.
    II. Kiến nghị - Đề xuất.
    1. Đối với tổ/nhóm chuyên môn
    - Thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, đóng góp ý kiến, cùng nhau xây dựng để hoàn thành tất cả chuyên đề trong khung bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp huyện, tỉnh.
    - Thường xuyên dự giờ, rút kinh nghiệm trao đổi, học tập chuyên môn trên tinh thần giúp nhau cùng tiến bộ.
    - Tổ /nhóm trưởng bộ môn Hoá Sinh cần có những buổi trao đổi kinh nghiệm dạy học riêng của bộ môn tạo điều kiện học hỏi trao đổi lẫn nhau trong nhóm Hoá- Sinh
    2. Đối với Lãnh đạo nhà trường
    - Tạo điều kiện về thời khóa biểu hợp lí để giáo viên có thể dự giờ nhau nhiều hơn.
    - Tạo điều kiện để giáo viên trong nhà trường nói chung và giáo viên môn sinh học nói riêng bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ tốt cho công tác giảng dạy để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
    - Tạo điều kiện để giáo viên thực hiện các chuyên đề, ngoại khóa, giúp giáo viên giao lưu, học hỏi thêm kinh nghiệm từ trường bạn.
    - Bổ sung thêm trang thiết bị để nâng cao hứng thú cho học sinh, để đạt hiêu quả dạy học cao hơn.
    3. Đối với Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT.
    - Tổ chức thêm các buổi sinh hoạt chuyên môn để giáo viên có thể trao đổi kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau.
    - Tổ chức các đợt bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên.
    - Thường xuyên tổ chức các chuyên đề cấp huyện, các buổi hội thảo nâng cao chất lượng dạy học môn Sinh học; động viên kịp thời những tập thể, cá nhân có nhiều sáng kiến đổi mới phương pháp dạy học.
    - Tổ chức triển khai áp dụng những kinh nghiệm hay trong giảng dạy.
    - Tổ chức các đợt tập huấn bồi dưỡng giáo viên môn Sinh học có mời chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy.






    PHỤ LỤC :
    BÀI TẬP ADN TRONG CÁC ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI





    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. SGK – SGV Sinh học 9
    2. Huỳnh Quốc Thành – BD HSG 9 và luyện thi vào lớp 10 chuyên, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
    3. Để học tốt sinh 9 – Tác giả : Nguyễn Văn Sang – Nguyễn Thị Thảo Vân.
    4. Phương pháp giải bài tập sinh học – Tác giả: Nguyễn Văn Sang–Nguyễn Thị Thảo Vân.
    5. Các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh – của các tỉnh, thành phố, các huyện.
    6. Phương pháp giải bài tập sinh học có lô gíc toán – Tác giả : Nguyễn Thị Hoa Phương.
    7. TS Phan Khắc Nghệ (2018), Phương p
     
    Gửi ý kiến

    Báo mới

    Hình ảnh

    VĂN NGHỆ NHÀ TRƯỜNG 2012 PHẦN 1

    Dân vũ Trường THCS Sơn Kim

    VĂN NGHỆ NHÀ TRƯỜNG 2012 PHẦN 2

    HƯONG SƠN VĂN HIẾN

    HƯƠNG SƠN QUÊ MÌNH